Saturday, August 11, 2012

Giải quyết Homophily

Tôi mới tìm thấy và đọc qua một số nghiên cứu của Greg Ver Steeg, nghiên cứu viên ở Information Science Institute, University of South California (Đại học Nam California). Lý do là vì Ver Steeg quan tâm và đưa ra một số hướng giải quyết vấn đề tách homophily và influence trên các mạng xã hội (social networks). Đây là một câu hỏi thực nghiệm rất khó: Khi ta quan sát được một hành động/thuộc tính có liên hệ chặt chẽ giữa các  "đỉnh" (nôm na là các cá nhân) của một mạng quan hệ xã hội, liệu điều này phản ánh sự ảnh hưởng lẫn nhau trên mạng xã hội (theo cách giải thích này thì mạng xã hội đóng vai trò chính), hay chỉ thể hiện việc các đỉnh (cá nhân) này có những tính chất (ẩn hoặc quan sát được) giống nhau, và những tính chất này cùng thể hiện ra hành động/thuộc tính ta quan sát được (theo cách giải thích này thì mạng xã hội không đóng vai trò gì). Nhìn chung, để giải quyết được vấn đề thống kê này, chỉ có cách tạo kết nối trên mạng xã hội một cách ngẫu nhiên (randomize). (Hoặc có "biến công cụ" - instrumental variable - có sự ngẫu nhiên như vậy.) Điều này rất khó trong thực tế. Nếu Ver Steeg đưa ra lời giải tốt, thì có thể có những ứng dụng đặc biệt quan trọng trong kinh tế và xã hội học.

Tuy vậy, đọc qua thì tôi không cảm thấy thỏa mãn lắm. Đúng là khó có cách giải quyết tốt về mặt lý thuyết được. Ver Steeg có một nghiên cứu đề xuất một cách thử homophily, tuy vậy tôi nghĩ cách này tương đối yếu, và vẫn dựa vào giả thuyết thêm là yếu tố homophily không thay đổi theo thời gian. Còn lại, các nghiên cứu khác vẫn dựa vào mô hình cụ thể, vì thế khó có thể giải quyết vấn đề tổng quát.

Tôi viết ngắn gọn một chút để sau sẽ xem thêm các nghiên cứu về mạng xã hội trong ngành khoa học máy tính. Có lẽ có rất nhiều kết quả thú vị.

Thursday, June 7, 2012

Blog tập hợp data về kinh tế phát triển - kinh tế chính trị

Masayuki Kudamatsu, phó giáo sư (Assistant Professor) ở Học viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc tế (IIES), Đại học Stockholm, thành lập và cập nhật một blog về các cơ sở dữ liệu được dùng trong nghiên cứu kinh tế phát triển. Blog link ở đây: http://devecondata.blogspot.sg/
Địa chỉ website cá nhân của Kudamatsu ở đây: http://people.su.se/~mkuda/HOME.html. IIES là một trong những trường kinh tế hàng đầu ở châu Âu (có lẽ chỉ sau LSE và U Pompeu Fabra), nhất là về kinh tế chính trị.

Kudamatsu có một bài nghiên cứu làm cùng với thầy giáo cũ ở LSE là Tim Besley rất thú vị, tên là "Làm cho nền chuyên chế chạy được" (Making Autocracy Work), đã đăng trong cuốn sách "Thể chế và kết quả kinh tế" (Institutions and Economic Performance) do Elhanan Helpman biên tập. Link đến bài này có thể tìm trên google scholar, ví dụ như link từ STICERD: http://sticerd.lse.ac.uk/dps/de/dedps48.pdf. Bài tóm tắt mang tính phổ thông trên VoxEU ở đây: http://www.voxeu.org/index.php?q=node/356.

Bài này đặt tên để nhắc lại cuốn sách nổi tiếng "Làm cho nền dân chủ chạy được" (Making Democracy Work) của Robert Putnam. Besley và Kudamatsu phát triển theo quan điểm là trong những nền chuyên chế (tức là phi dân chủ) cũng có những lực lượng giám sát, cân bằng, gây sức ép với chính quyền hiện hành để đưa ra chính sách kinh tế hợp lý. Có điều, vì cơ chế khác nhiều với môi trường dân chủ, thường là không có sự ổn định giữa chính sách hay hay dở, nên kết quả là các thể chế chuyên chế có thể thành công, song cũng có thể gặp vô vàn thất bại. Đây là một quan điểm khá thú vị, và bổ sung thêm cho hai quan điểm chính về các nước chuyên chế trong khoa học kinh tế chính trị. Hai quan điểm chính này thuộc về Acemoglu và Robinson ("Những nguồn gốc kinh tế của nền dân chủ và nền độc tài" - Economic Origins of Dictatorship and Democracy), và Bueno de Mesquita và đồng tác giả ("Logic của sự sống còn trong chính trị" - Logic of Political Survival). Sự khác biệt chủ yếu nằm ở cách hiểu những lực lượng giám sát và cân bằng (checks and balances) trong môi trường chuyên chế/độc tài. Acemoglu và Robinson chú trọng vào mối đe doạ cách mạng đến từ dân chúng, Bueno de Mesquita và đồng tác giả chú trọng vào vai trò của nhóm người có thực quyền lựa chọn ra lãnh đạo (họ đưa ra từ "selectorate", xuất phát từ select và electorate), còn Besley và Kudamatsu quan tâm đến hiện tượng nhà lãnh đạo bị thay thế nếu như không có khả năng đưa ra chính sách đúng đắn.

Tuesday, June 5, 2012

Sự biệt lập của trung tâm chính trị và mức độ tham nhũng trong các bang ở Mỹ

Tôi đã nhắc qua về bài này trên blog Duy Lý Nhân, nhưng nghĩ lại thấy để bên blog này hợp lý hơn. Đây là một nghiên cứu mới của tôi về sự biệt lập của trung tâm chính trị và mức độ tham nhũng ở Mỹ mới được trích dẫn trên một số blog, báo LA Times và NPR:
Bài nghiên cứu gốc có tựa đề "Thủ phủ bị cô lập, mức độ chịu trách nhiệm của chính quyền, và tham nhũng: Bằng chứng từ các bang của Mỹ" có thể xem ở đây: http://www.mysmu.edu/faculty/quocanhdo/default_files/Papers/CorruptionStates%20%28May12%29_merged.pdf. (Tôi tạm dịch chữ "accountability" là "mức độ chịu trách nhiệm của chính quyền, nhờ mọi người tìm cách khác tốt hơn.)


Bài nghiên cứu này xuất phát từ chương trình nghiên cứu của tôi và anh Filipe R. Campante (bạn học cũ, hiện là Assistant Professor ở Harvard Kennedy School) về vai trò của sự tập trung dân chúng ở các trung tâm chính trị. Mạch suy luận điển hình trong chương trình nghiên cứu này là nếu dân chúng sống tập trung hơn xung quanh các trung tâm chính trị, thì dân chúng có ảnh hưởng hơn, có tiếng nói hơn đối với chất lượng chính sách và cuộc sống chính trị. Tuy vậy, tuỳ theo môi trường thể chế, sự ảnh hưởng này có cách thể hiện rất khác nhau. Trong câu chuyện ở Mỹ trong bài nghiên cứu này, thì kênh dẫn chính của ảnh hưởng của dân chúng là các phương tiện báo chí. Ở các bang có dân cư sinh sống gần với thủ phủ hơn, báo chí sẽ tích cực đưa tin về chính trị ở mức bang hơn, và vì thế chính quyền bang chịu sức ép và phải có trách nhiệm hoạt động trong sạch và tốt hơn. Một yếu tố khác là nhờ báo chí đưa tin nhiều hơn, cư dân sống gần với thủ phủ của bang cũng có xu hướng đi bầu cử ở mức bang nhiều hơn (trong khi điều này không ảnh hưởng đến việc đi bầu cử mức liên bang, như là bầu cử tổng thống.) Việc cư dân sống gần thủ phủ hơn cũng làm cho chính quyền bang lo chi tiêu cho chính sách công nhiều hơn, và hạn chế việc các nhóm lợi ích bơm tiền vào hoạt động chính trị. Cụ thể chi tiết có thể xem trong bài viết.

Chương trình nghiên cứu của chúng tôi bắt đầu từ khoảng năm 2004, khi chúng tôi vẫn còn chung nhau một căn hộ ở Cambridge. Chương trình này cũng đã sinh ra một vài nghiên cứu, nhưng có lẽ bài viết về các bang ở Mỹ sẽ được giới khoa học kinh tế chú ý nhất.

Update: - Thực ra tôi đã nhắc đến một nghiên cứu khác trong chương trình nghiên cứu này, link ở đây: http://ytuongkinhtehoc.blogspot.sg/2010/09/nghien-cuu-cua-toi.html.
- Blog Marginal Revolution lại nhắc đến 2 bài nghiên cứu này ở đây: http://marginalrevolution.com/marginalrevolution/2012/08/are-isolated-capital-cities-worse.html.

Wednesday, August 31, 2011

Tội phạm khoa học

Trong kinh tế học cũng không thiếu những trường hợp phản lại đạo đức khoa học. Trang RePec.org có một uỷ ban truy tìm những trường hợp phản khoa học, ở link này. Những trường hợp này phần nhiều là ăn trộm hoàn toàn hoặc một phần bài nghiên cứu của người khác. Mới gần đây (xuất bản năm 2011), có trường hợp nhóm nghiên cứu của Bruno Frey (khá nổi tiếng ở Đại học Zurich) đồng thời xuất bản 3 bài ở 3 tạp chí khác nhau, có nội dung về bản chất là như nhau. Trường hợp này bị editor của báo Journal of Economic Perspectives là David Autor phát hiện ra, và sau đó đã bị lên án trên mặt báo. Tiện thể, các bác không làm chuyên ngành kinh tế nhưng có quan tâm đến các vấn đề kinh tế có thể đọc báo này, cũng là báo chính thức của hội kinh tế học Mỹ (American Economic Association), chất lượng rất cao mà lại dễ tiếp cận.



Wednesday, October 20, 2010

Being Wanted

Chúc mừng anh Toàn đã đăng bài báo về trẻ em sinh năm tốt/xấu ở Việt Nam trên American Economic Journal: Applied Economics:

Do, Quy-Toan, and Tung D. Phung. 2010. "The Importance of Being Wanted." American Economic Journal: Applied Economics, 2(4): 236–53.
Abstract
We identify birth wantedness as a source of better child outcomes. In Vietnam, the year of birth is widely believed to determine success. As a result, cohorts born in auspicious years are 12 percent larger. Comparing siblings with one another, those of auspicious cohorts are found to have two extra months of schooling. The Vietnamese horoscope being gender-specific, this difference will be shown to be driven by birth planning. Children born in auspicious years are more likely to have been planned, thus benefiting from a more favorable growth environment. (JEL J12, J13, O15, P23, Z13)

Tăng trưởng và thay đổi chính trị

Bài này mới đăng trên American Economic Journal: Macroeconomics, một trong bốn tờ bào "chuyên đề" mới mở từ American Economic Review: Do Output Contractions Trigger Democratic Change? Câu hỏi của bài, như trong tên bài, là liệu khó khăn về kinh tế có dẫn đến chuyển đổi thể chế dân chủ trong ngắn hạn không. Bài sử dụng phương pháp dynamic panel và dùng instrumental variables (IV) để định dạng (identify) ảnh hưởng của tăng trưởng lên thay đổi thể chế, chứ không phải chiều ngược lại, hay có một yếu tố ẩn (omitted variable) ảnh hưởng đến cả hai. IV ở đây là những shock về khí hậu (lượng mưa, nhiệt độ) và giá nguyên vật liệu. Sau đây là tóm tắt cụ thể. Như thường lệ, các bạn có thể tìm qua google scholar nếu không truy cập tực tiếp được.
Does faster economic growth increase pressure for democratic change, or reduce it? Using data for 154 countries for the period 1963–2007, we examine the short-run relationship between economic growth and moves toward and away from greater democracy. To address the potential endogeneity of economic growth, we use variation in precipitation, temperatures, and commodity prices as instruments for a country’s rate of economic growth. Our results indicate that more rapid economic growth reduces the short-run likelihood of institutional change toward democracy. Output contractions due to adverse weather shocks appear to have a particularly important impact on the timing of democratic change.
Kết quả này có thể không làm nhiều người ngạc nhiên, nhưng nó đóng góp vào cuộc thảo luận về liên hệ giữa phát triển và thay đổi thể chế. Trong tranh luận về vấn đề này, câu hỏi chủ yếu là cần có thay đổi thể chế trước, hay cần có phát triển trước, trong đó phát triển ở đây được hiểu theo nhiều phương diện, từ tăng trưởng cho đến giáo dục. Kết quả của bài này ủng hộ luận điểm cần có thay đổi thể chế trước, vì tăng trưởng thậm chí giảm khả năng thay đổi thể chế trong ngắn hạn.

Tuesday, October 12, 2010

Những bài viết về giải Nobel Kinh tế 2010

Tôi thu thập ở đây một số bài viết về giải Nobel Kinh tế 2010 để tham khảo dần:

Ngoài ra các economist blogger khác cũng có chúc mừng và nhắc đến giải, nhưng chưa có nhiều thông tin gì thêm.

Đây là một số bài tổng hợp các nghiên cứu về mô hình search trong labor và monetary economics. Với scholar.google.com, nếu bạn nào không có access vào bản chính thì có thể tìm được các version là working paper.