Masayuki Kudamatsu, phó giáo sư (Assistant Professor) ở Học viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc tế (IIES), Đại học Stockholm, thành lập và cập nhật một blog về các cơ sở dữ liệu được dùng trong nghiên cứu kinh tế phát triển. Blog link ở đây: http://devecondata.blogspot.sg/
Địa chỉ website cá nhân của Kudamatsu ở đây: http://people.su.se/~mkuda/HOME.html. IIES là một trong những trường kinh tế hàng đầu ở châu Âu (có lẽ chỉ sau LSE và U Pompeu Fabra), nhất là về kinh tế chính trị.
Kudamatsu có một bài nghiên cứu làm cùng với thầy giáo cũ ở LSE là Tim Besley rất thú vị, tên là "Làm cho nền chuyên chế chạy được" (Making Autocracy Work), đã đăng trong cuốn sách "Thể chế và kết quả kinh tế" (Institutions and Economic Performance) do Elhanan Helpman biên tập. Link đến bài này có thể tìm trên google scholar, ví dụ như link từ STICERD: http://sticerd.lse.ac.uk/dps/de/dedps48.pdf. Bài tóm tắt mang tính phổ thông trên VoxEU ở đây: http://www.voxeu.org/index.php?q=node/356.
Bài này đặt tên để nhắc lại cuốn sách nổi tiếng "Làm cho nền dân chủ chạy được" (Making Democracy Work) của Robert Putnam. Besley và Kudamatsu phát triển theo quan điểm là trong những nền chuyên chế (tức là phi dân chủ) cũng có những lực lượng giám sát, cân bằng, gây sức ép với chính quyền hiện hành để đưa ra chính sách kinh tế hợp lý. Có điều, vì cơ chế khác nhiều với môi trường dân chủ, thường là không có sự ổn định giữa chính sách hay hay dở, nên kết quả là các thể chế chuyên chế có thể thành công, song cũng có thể gặp vô vàn thất bại. Đây là một quan điểm khá thú vị, và bổ sung thêm cho hai quan điểm chính về các nước chuyên chế trong khoa học kinh tế chính trị. Hai quan điểm chính này thuộc về Acemoglu và Robinson ("Những nguồn gốc kinh tế của nền dân chủ và nền độc tài" - Economic Origins of Dictatorship and Democracy), và Bueno de Mesquita và đồng tác giả ("Logic của sự sống còn trong chính trị" - Logic of Political Survival). Sự khác biệt chủ yếu nằm ở cách hiểu những lực lượng giám sát và cân bằng (checks and balances) trong môi trường chuyên chế/độc tài. Acemoglu và Robinson chú trọng vào mối đe doạ cách mạng đến từ dân chúng, Bueno de Mesquita và đồng tác giả chú trọng vào vai trò của nhóm người có thực quyền lựa chọn ra lãnh đạo (họ đưa ra từ "selectorate", xuất phát từ select và electorate), còn Besley và Kudamatsu quan tâm đến hiện tượng nhà lãnh đạo bị thay thế nếu như không có khả năng đưa ra chính sách đúng đắn.
Showing posts with label Acemoglu. Show all posts
Showing posts with label Acemoglu. Show all posts
Thursday, June 7, 2012
Sunday, October 10, 2010
Nguồn gốc thể chế và ảnh hưởng lâu dài
Nghiên cứu về tầm quan trọng của các thể chế kinh tế, xã hội, chính trị là một nhánh chính yếu của kinh tế học, nhất là từ phong trào "kinh tế thể chế mới" bắt nguồn cách đây hơn 20 năm. Một trong những kết quả thường được đảo đi đảo lại là nguồn gốc của thể chế có ảnh hưởng lâu dài đến phát triển kinh tế. Ví dụ thứ nhất là những nghiên cứu về ảnh hưởng của nguồn gốc thực dân lên hệ thống luật pháp và thể chế (Laporta, Lopez-de-Silanes, Shleifer, Vishny), mà chủ yếu là so sánh giữa hệ thống civil law (gốc Pháp) và hệ thống common law(gốc Anh), theo đó các nước có nguồn gốc common law thường có kết quả phát triển kinh tế tốt hơn. Ví dụ thứ hai là tập hợp nghiên cứu về thể chế thực dân mang tính bóc lột hay xây dựng (Acemoglu, Robinson), theo đó không phân biệt nguồn gốc luật pháp, ở những nơi khó định cư thì thực dân phương Tây áp đặt thể chế bọc lột, từ đó ảnh hưởng lâu dài đến thể chế sau này (kể cả sau khi các nước thuộc địa giành độc lập), rồi ảnh hưởng đến phát triển kinh tế.
Khó khăn điển hình của tất cả những nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này là việc không thể định dạng (identify) chính xác được đâu là tác động của thể chế, đâu là tác động của các yếu tố khác, bao gồm rất nhiều đặc điểm riêng về văn hoá, địa lý, lịch sử, nhân chủng của mỗi quốc gia. Ngay cả nghiên cứu của Acemoglu, Johnson và Robinson sử dụng tỷ lệ tử vong của người định cư phương Tây cũng có những thiếu sót khó tránh khỏi.
Để giải quyết vấn đề định dạng (identification), phương hướng đi sâu là tìm những thí nghiệm tự nhiên, trong đó các nước/lãnh thổ vì một lý do ngẫu nhiên nào đó bị chiếm đóng và được du nhập thể chế kiểu Anh, thay vì kiểu Pháp (hơn nữa, lý do này không ảnh hưởng đến các yếu tố khác). Rất khó tìm được những thí nghiệm tự nhiên như vậy. Ví dụ có nghiên cứu của Acemoglu, Cantoni, Johnson, Robinson dựa vào sự chiếm đóng của quân đội Napoléon ở các bang của Đức để tìm hiểu ảnh hưởng của sự giải phóng về thể chế (kết quả là tác động tốt của thể chế Napoléonean) (bài này cũng đã được diễn giải trên voxeu).
Việc tìm được một thí nghiệm tự nhiên tốt về vấn đề nguồn gốc thể chế sẽ dẫn đến những kết quả mạnh và có ảnh hưởng lớn trong kinh tế thể chế. Đây cũng là một câu hỏi mà tôi vẫn thường nghĩ. Hiện giờ, tôi có những ý tưởng rất sơ khai như sau:
Khó khăn điển hình của tất cả những nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này là việc không thể định dạng (identify) chính xác được đâu là tác động của thể chế, đâu là tác động của các yếu tố khác, bao gồm rất nhiều đặc điểm riêng về văn hoá, địa lý, lịch sử, nhân chủng của mỗi quốc gia. Ngay cả nghiên cứu của Acemoglu, Johnson và Robinson sử dụng tỷ lệ tử vong của người định cư phương Tây cũng có những thiếu sót khó tránh khỏi.
Để giải quyết vấn đề định dạng (identification), phương hướng đi sâu là tìm những thí nghiệm tự nhiên, trong đó các nước/lãnh thổ vì một lý do ngẫu nhiên nào đó bị chiếm đóng và được du nhập thể chế kiểu Anh, thay vì kiểu Pháp (hơn nữa, lý do này không ảnh hưởng đến các yếu tố khác). Rất khó tìm được những thí nghiệm tự nhiên như vậy. Ví dụ có nghiên cứu của Acemoglu, Cantoni, Johnson, Robinson dựa vào sự chiếm đóng của quân đội Napoléon ở các bang của Đức để tìm hiểu ảnh hưởng của sự giải phóng về thể chế (kết quả là tác động tốt của thể chế Napoléonean) (bài này cũng đã được diễn giải trên voxeu).
Việc tìm được một thí nghiệm tự nhiên tốt về vấn đề nguồn gốc thể chế sẽ dẫn đến những kết quả mạnh và có ảnh hưởng lớn trong kinh tế thể chế. Đây cũng là một câu hỏi mà tôi vẫn thường nghĩ. Hiện giờ, tôi có những ý tưởng rất sơ khai như sau:
- Có thể tìm hiểu những nhượng địa ở Thượng Hải: nhà Thanh phải ký nhiều hiệp ước nhượng đất cho các cường quốc phương Tây, đặc biệt ở Thượng Hải. Có thể những nhượng địa này chịu ảnh hưởng lâu dài của các thể chế khác nhau. Tuy vậy, tôi cảm giác rằng hướng này không đi đến đâu, vì nước Trung Quốc của Mao Trạch Đông đã nhổ tận gốc những mầm mống thể chế trước đó. May ra nếu tìm được dữ liệu chi tiết của các nhượng địa này vào thời 1950-1955 thì còn có thể thấy tác động; tuy nhiên điều này không khả thi.
- Có thể tìm hiểu sự di cư của người Hoa đến các nước Đông Nam Á. Địa điểm di cư về cơ bản không ngẫu nhiên; tuy vậy dường như người Hoa di cư đến những địa điểm đã có sẵn người Hoa, và điều này có thể lùi lại nhiều thế kỷ đến thời kỳ Trịnh Hoà đi thám hiểm Đông Nam Á (có thể giả sử rằng địa điểm dừng chân khá ngẫu nhiên). Để chính xác hơn, có thể hạn chế vào một quốc gia, chẳng hạn như Malaysia. Nghiên cứu này có thể cũng thú vị, nếu như có đủ dữ liệu để làm. Câu hỏi ở đây không hẳn là về thể chế chính trị và kinh tế của phương Tây, mà là về thể chế xã hội và kinh tế của một bộ phận quan trọng người nhập cư có nguồn gốc khác hẳn với người bản địa.
Labels:
Acemoglu,
Hoa Kiều,
identification,
institution,
làng xã,
nhượng địa,
Shleifer
Thursday, September 2, 2010
Time Inconsistency
Bài này đã viết trên blog cũ (nay là Blog Duy Lý Nhân), nhưng tôi chép lại ở đây vì nội dung có phần phù hợp hơn. Bài này được viết trước khi Oliver Williamson được giải Nobel thì phải.
Bài gốc: Time Inconsistency
Vấn đề thiếu nhất quán theo thời gian (time inconsistency) là một yếu tố rất quan trọng trong kinh tế học hiện đại; tôi cũng biết từ trước, song đến hôm nay đột nhiên hiểu ra nó còn quan trọng hơn cả tầm quan trọng lúc trước mình vẫn nghĩ.
Nói chung chung, time inconsistency chỉ trường hợp một cá thể kinh tế phải đối diện với cùng một quyết định tại hai thời điểm khác nhau, mà quyết định tối ưu ở mỗi thời điểm một khác. Ví dụ, một sinh viên phải tính trước quyết định từ năm thứ nhất là đến năm thứ hai sẽ làm gì, sau đó đến năm thứ hai thì thực sự thi hành. Vấn đề nảy sinh nếu sinh viên này từ đầu nghĩ rằng nên học nhiều vào năm thứ hai, còn năm thứ nhất chơi thỏa thích đã; song đến năm thứ hai, thì thực sự sinh viên này lại muốn chơi tiếp. Vì không có cách nào tự ràng buộc vào việc học năm thứ hai (thiếu commitment device), nên cuối cùng sinh viên này chơi hết luôn 2 năm, không học hành gì nữa. (Vô tình ví dụ này lại giống hệt thời học đại học của tôi :D.)
Ví dụ thì tương đối đặc biệt, còn về ý chung, có thể hiểu time inconsistency là sự thiếu hụt một phương tiện thỏa thuận và bảo đảm hợp đồng. Trong ví dụ này, đó là "hợp đồng" giữa sinh viên này năm thứ nhất, và sinh viên này năm thứ hai: dĩ nhiên hai người này không thỏa thuận được với nhau. Cũng có một số cách tạo nên phương tiện bảo đảm hợp đồng, ví dụ như tự đăng ký vào các lớp học không bỏ được, kể với bạn bè rằng sẽ học thực sự vào năm thứ hai, vân vân, song không phương tiện nào hoàn hảo, và lúc nào cũng có cách tháo gỡ cả.
Nôm na về time inconsistency là như thế. Bây giờ nói đến ảnh hưởng trên lý thuyết kinh tế của khái niệm này. Khung cơ bản của kinh tế hiện đại là kinh tế tân cổ điển trong đó tất cả các thị trường đều hoạt động tốt, và quan trọng là mọi giao dịch đều được bảo đảm sẽ thực hiện (tức là mọi hợp đồng đều được thực thi) - gốc lý thuyết bắt nguồn từ hệ thống cân bằng tổng thể (từ những người "marginalists" đến Arrow-Debreu, mở rộng thêm tiền tệ, tài chính, vv., cộng với định lý quan trọng về externalities của Coase). Một khi nền tảng giả thiết này không được thỏa mãn, thì kết quả cuối cùng sẽ không còn tối ưu cho tất cả mọi cá thể nữa, và thường liên quan đến một vấn đề kinh tế thú vị.
Đây là những vấn đề thú vị tôi nhận ra có liên hệ mật thiết với khái niệm time inconsistency. Đầu tiên là sự "khám phá" ra khái niệm này, nhờ đó Kydland và Prescott đã được giải Nobel (thực ra 2 ông còn có công xây dựng mô hình Real Business Cycles nữa) - nguồn gốc thực sự có lẽ từ Keynes, nếu không phải là trước nữa. Sát với khái niệm này trong kinh tế vĩ mô là nghiên cứu của Barro-Gordon về reputation của central banker, cũng là một "Nobel claim" của Robert Barro (cùng với nghiên cứu về Ricardian equivalence). Sau đấy là lý thuyết hợp đồng, với vấn đề hold-up của Oliver Williamson, sau đến lý thuyết property rights của Sanford Grossman, Oliver Hart và John Moore: trong các lý thuyết này, time inconsistency nảy sinh trong quan hệ hợp đồng giữa 2 bên, và cũng không có khả năng đảm bảo hợp đồng ở tòa án (Maskin-Tirole phản đối việc này). Đây cũng là các lý thuyết có "Nobel claim". Tiếp nữa là lý thuyết về intellectual property rights, trong đó việc đảm bảo một thứ quyền nhân tạo như IPR chính là một commitment device để tạo động cơ cho khám phá công nghệ. Lý thuyết này (David Levine có phản đối IPR tương đối hay) dẫn đến lý thuyết tăng trưởng nội sinh thế hệ 2 (Aghion-Howitt), trong đó chính sách nhà nước có tác dụng thúc đẩy nghiên cứu, nhờ làm commitment device cho việc tận dụng thành quả nghiên cứu cho nhà phát minh, nhờ đó tạo ra tăng trưởng nội sinh. Tiếp theo phải nói đến lý thuyết thuế (public finance) giải thích về thuế lên capital chứ không phải labor, cơ bản cũng tạo ra commitment device. Tiếp nữa là lý thuyết về procrastination trong behavioral economics, như là hyperbolic discounting của David Laibson (time inconsistency của cùng 1 cá nhân ở nhiều thời điểm khác nhau, như là ví dụ tôi viết ở trên). Gần đây, đặc biệt có lý thuyết về kinh tế chính trị của Acemoglu-Robinson trong đó một nền độc tài luôn gặp time inconsistency khi muốn đảm bảo không bóc lột dân chúng, và tạo ra commitment device chính nhờ vào việc chuyển đổi thành dân chủ. Gần nhất, lý thuyết quyền sở hữu của Grossman-Hart-Moore mang vào thương mại quốc tế để giải thích quyết định outsource hay FDI (Antras).
Phù, đến hôm nay tôi mới thấy ảnh hưởng rộng lớn của một khái niệm đơn giản như thế. Có lẽ tại vì ngày trước không chịu học hành tử tế.
Bài này chủ yếu là để ghi nhớ ý tưởng, các bạn không quan tâm đến ngành kinh tế chắc là không để ý làm gì.
Bổ sung về Time Inconsistency
Dưới đây tôi sẽ bổ sung dần dần thêm về những bài nghiên cứu có đề cập đến hiện tượng này. Gần đây có bài của Emmanuel Farhi và Ivan Werning chỉ ra ích lợi của tax on capital trên phương diện nó là commitment device để tránh time inconsistency của policy makers.
Bài gốc: Time Inconsistency
Vấn đề thiếu nhất quán theo thời gian (time inconsistency) là một yếu tố rất quan trọng trong kinh tế học hiện đại; tôi cũng biết từ trước, song đến hôm nay đột nhiên hiểu ra nó còn quan trọng hơn cả tầm quan trọng lúc trước mình vẫn nghĩ.
Nói chung chung, time inconsistency chỉ trường hợp một cá thể kinh tế phải đối diện với cùng một quyết định tại hai thời điểm khác nhau, mà quyết định tối ưu ở mỗi thời điểm một khác. Ví dụ, một sinh viên phải tính trước quyết định từ năm thứ nhất là đến năm thứ hai sẽ làm gì, sau đó đến năm thứ hai thì thực sự thi hành. Vấn đề nảy sinh nếu sinh viên này từ đầu nghĩ rằng nên học nhiều vào năm thứ hai, còn năm thứ nhất chơi thỏa thích đã; song đến năm thứ hai, thì thực sự sinh viên này lại muốn chơi tiếp. Vì không có cách nào tự ràng buộc vào việc học năm thứ hai (thiếu commitment device), nên cuối cùng sinh viên này chơi hết luôn 2 năm, không học hành gì nữa. (Vô tình ví dụ này lại giống hệt thời học đại học của tôi :D.)
Ví dụ thì tương đối đặc biệt, còn về ý chung, có thể hiểu time inconsistency là sự thiếu hụt một phương tiện thỏa thuận và bảo đảm hợp đồng. Trong ví dụ này, đó là "hợp đồng" giữa sinh viên này năm thứ nhất, và sinh viên này năm thứ hai: dĩ nhiên hai người này không thỏa thuận được với nhau. Cũng có một số cách tạo nên phương tiện bảo đảm hợp đồng, ví dụ như tự đăng ký vào các lớp học không bỏ được, kể với bạn bè rằng sẽ học thực sự vào năm thứ hai, vân vân, song không phương tiện nào hoàn hảo, và lúc nào cũng có cách tháo gỡ cả.
Nôm na về time inconsistency là như thế. Bây giờ nói đến ảnh hưởng trên lý thuyết kinh tế của khái niệm này. Khung cơ bản của kinh tế hiện đại là kinh tế tân cổ điển trong đó tất cả các thị trường đều hoạt động tốt, và quan trọng là mọi giao dịch đều được bảo đảm sẽ thực hiện (tức là mọi hợp đồng đều được thực thi) - gốc lý thuyết bắt nguồn từ hệ thống cân bằng tổng thể (từ những người "marginalists" đến Arrow-Debreu, mở rộng thêm tiền tệ, tài chính, vv., cộng với định lý quan trọng về externalities của Coase). Một khi nền tảng giả thiết này không được thỏa mãn, thì kết quả cuối cùng sẽ không còn tối ưu cho tất cả mọi cá thể nữa, và thường liên quan đến một vấn đề kinh tế thú vị.
Đây là những vấn đề thú vị tôi nhận ra có liên hệ mật thiết với khái niệm time inconsistency. Đầu tiên là sự "khám phá" ra khái niệm này, nhờ đó Kydland và Prescott đã được giải Nobel (thực ra 2 ông còn có công xây dựng mô hình Real Business Cycles nữa) - nguồn gốc thực sự có lẽ từ Keynes, nếu không phải là trước nữa. Sát với khái niệm này trong kinh tế vĩ mô là nghiên cứu của Barro-Gordon về reputation của central banker, cũng là một "Nobel claim" của Robert Barro (cùng với nghiên cứu về Ricardian equivalence). Sau đấy là lý thuyết hợp đồng, với vấn đề hold-up của Oliver Williamson, sau đến lý thuyết property rights của Sanford Grossman, Oliver Hart và John Moore: trong các lý thuyết này, time inconsistency nảy sinh trong quan hệ hợp đồng giữa 2 bên, và cũng không có khả năng đảm bảo hợp đồng ở tòa án (Maskin-Tirole phản đối việc này). Đây cũng là các lý thuyết có "Nobel claim". Tiếp nữa là lý thuyết về intellectual property rights, trong đó việc đảm bảo một thứ quyền nhân tạo như IPR chính là một commitment device để tạo động cơ cho khám phá công nghệ. Lý thuyết này (David Levine có phản đối IPR tương đối hay) dẫn đến lý thuyết tăng trưởng nội sinh thế hệ 2 (Aghion-Howitt), trong đó chính sách nhà nước có tác dụng thúc đẩy nghiên cứu, nhờ làm commitment device cho việc tận dụng thành quả nghiên cứu cho nhà phát minh, nhờ đó tạo ra tăng trưởng nội sinh. Tiếp theo phải nói đến lý thuyết thuế (public finance) giải thích về thuế lên capital chứ không phải labor, cơ bản cũng tạo ra commitment device. Tiếp nữa là lý thuyết về procrastination trong behavioral economics, như là hyperbolic discounting của David Laibson (time inconsistency của cùng 1 cá nhân ở nhiều thời điểm khác nhau, như là ví dụ tôi viết ở trên). Gần đây, đặc biệt có lý thuyết về kinh tế chính trị của Acemoglu-Robinson trong đó một nền độc tài luôn gặp time inconsistency khi muốn đảm bảo không bóc lột dân chúng, và tạo ra commitment device chính nhờ vào việc chuyển đổi thành dân chủ. Gần nhất, lý thuyết quyền sở hữu của Grossman-Hart-Moore mang vào thương mại quốc tế để giải thích quyết định outsource hay FDI (Antras).
Phù, đến hôm nay tôi mới thấy ảnh hưởng rộng lớn của một khái niệm đơn giản như thế. Có lẽ tại vì ngày trước không chịu học hành tử tế.
Bài này chủ yếu là để ghi nhớ ý tưởng, các bạn không quan tâm đến ngành kinh tế chắc là không để ý làm gì.
Bổ sung về Time Inconsistency
Dưới đây tôi sẽ bổ sung dần dần thêm về những bài nghiên cứu có đề cập đến hiện tượng này. Gần đây có bài của Emmanuel Farhi và Ivan Werning chỉ ra ích lợi của tax on capital trên phương diện nó là commitment device để tránh time inconsistency của policy makers.
Labels:
Acemoglu,
Aghion,
Antras,
Grossman S.,
Hart,
Kydland,
Laibson,
nobel prize,
Prescott,
Robinson,
time inconsistency,
Williamson
Subscribe to:
Posts (Atom)
