Showing posts with label nobel prize. Show all posts
Showing posts with label nobel prize. Show all posts

Thursday, October 11, 2012

Nobel Kinh tế học 2012

Lại đến mùa giải Nobel, nhưng từ năm ngoái pool dự đoán kết quả ở Harvard đã bị nhà trường yêu cầu đóng. Xem lại một post từ năm 2010, tôi mới phát hiện ra là mình dự đoán gần như trúng phóc về giải cho econometrics (Sims, Hansen và Sargent), nhưng là dự đoán sớm một năm. Sims và Sargent đã được giải năm ngoái.

Đối với giải năm nào thì danh sách những người được cite nhiều nhất cũng không khác nhau mấy (ví dụ xem ở đây, hoặc ở đây). Thomson Reuters cũng dự đoán hàng năm, và thường xuyên sai. Nhưng họ lại thông báo danh sách những người từng được dự báo và từng được trúng. Dĩ nhiên là có nhiều người trong số những người họ dự báo sẽ được giải vào một năm nào đấy -- cái khó đoán ở đây là thời điểm, không phải danh tính người được giải.

Năm nay tôi không hứng thú lắm chuyện dự báo economists, vì cũng điểm mặt nhắc tên nhiều đến những cây cao bóng cả rồi. Có một vài cái tên "ngoại đạo" mà tôi thích hơn chút: nhà xã hội học Granovetter về mạng xã hội, hay là Posner và Shavell về luật và kinh tế.

Ở Pháp có Jean Tirole là người có nhiều khả năng được giải nhất, dù cũng vẫn còn hơi trẻ một chút. Có lẽ năm nay thành viên nổi bật nhất trong ủy ban giải Nobel kinh tế vẫn là Per Krusell. Nhìn vào lựa chọn năm ngoái là Sims và Sargent, dễ nhận xét Krusell là người có ảnh hưởng nhất trong ủy ban. Nhưng khó mà 2 năm liền trao giải cho macro, nên cũng không nói được gì trước. (Ngoài lề: nghe nói Krusell thích nghiên cứu của Joel Mokyr?)

Update: Hôm nay đã thông báo trao giải thưởng kinh tế cho Alvin Roth và Lloyd Shapley. Chúc mừng cả hai, đặc biệt là Al. Tôi đã được học lớp của Al, đã từng hỏi ý kiến của ông về việc thực hiện thí nghiệm kinh tế. Ông là một nhà kinh tế đặc biệt xuất chúng; vì có những đóng góp nổi bật trong nhiều lĩnh vực, từ lý thuyết bargaining (trò chơi hợp tác) cho đến thiết kế thị trường và thí nghiệm. Không kể hết ra đây được. Chắc tôi đã từng nêu tên ông là một trong những người có khả năng được giải sớm nhất ở Harvard (khi nào phải tìm lại trong blog cũ). Tuy nhiên, năm nay ông đã nhận lời chuyển sang Stanford, và vì thế trường Harvard lại trượt mất một giải Nobel kinh tế. Đây dường như là "curse" với Harvard về kinh tế: người cuối cùng được giải ở Harvard là Ken Arrow!! Nhiều người như Robert Merton, Amartya Sen, hay kể cả Eric Maskin, xây dựng hầu hết sự nghiệp ở Harvard, nhưng sau đó lại được giải Nobel khi đã chuyển sang nơi khác, và cuối cùng lại quay về Harvard.

Tuesday, October 12, 2010

Những bài viết về giải Nobel Kinh tế 2010

Tôi thu thập ở đây một số bài viết về giải Nobel Kinh tế 2010 để tham khảo dần:

Ngoài ra các economist blogger khác cũng có chúc mừng và nhắc đến giải, nhưng chưa có nhiều thông tin gì thêm.

Đây là một số bài tổng hợp các nghiên cứu về mô hình search trong labor và monetary economics. Với scholar.google.com, nếu bạn nào không có access vào bản chính thì có thể tìm được các version là working paper.

Monday, October 11, 2010

Nobel Kinh tế học 2010 - Kết quả

Vừa có kết quả giải Nobel kinh tế học năm nay, giải được trao cho Peter Diamond, Dale Mortensen và Christopher Pissarides cho mô hình search friction trong thị trường lao động. Tôi có nhắc đến Peter Diamond trong bài trước, chủ yếu vì ông đã tương đối già và đã đến lúc nhận giải (không chỉ về mô hình search friction). Mấy tháng trước nói chuyện trong trường, mấy cậu đồng nghiệp cũng nghĩ mô hình này sớm muộn sẽ được giải, nhưng cũng cảm giác rằng bây giờ vẫn hơi sớm. Quả thực là ý tưởng từ mô hình của Diamond xuất phát từ đầu những năm 1980, nhưng mô hình của Mortensen và Pissarides thì khá muộn (giữa những năm 1990).

Kết quả này hẳn sẽ làm hài lòng rất nhiều người nghiên cứu kinh tế vĩ mô dưới góc nhìn search friction, bao gồm cả thị trường lao động lẫn các câu hỏi về tiền tệ, tín dụng vv. Hai năm vừa rồi trường tôi cũng phỏng vấn nhiều người làm lý thuyết trong lĩnh vực này, nhưng cuối cùng không tuyển ai. Bây giờ muốn tuyển chắc là sẽ khó khăn hơn, vì giá trị của họ hẳn đã tăng lên đáng kể. Đặc biệt trong thị trường academic, search friction có thể rất lớn :-).

Có thời gian tôi sẽ viết một bài giới thiệu tử tế sau.

Sunday, October 10, 2010

Prediction markets

Prediction markets là các thị trường giao dịch các hợp đồng tiên đoán, tức là hợp đồng được và chỉ được thanh toán dựa vào một sự kiện đặc biệt nào đó. Ví dụ sát nhất là các hợp đồng tiên đoán giải Nobel mà tôi trích dẫn hôm trước. Về bản chất đây là một cuộc cá cược/đánh bạc giữa những người tham gia giao dịch (chứ không có nhà cái), và tỷ lệ đánh cược tùy thuộc vào cung và cầu của thị trường. Có thể xem thêm về thị trường này qua các bài của Wolfers và Zitzewitz trên NBER.org, mà tiêu điểm là nghiên cứu cùng với Snowberg về ảnh hưởng của tổng thống Dân chủ so với Cộng hòa đối với thị trường chứng khoán. Cũng có một số nghiên cứu khác như của Charles Manski. (Các bạn không truy cập trực tiếp vào journal có thể dùng scholar.google.com để tìm ra những bản working paper dễ dàng.) Hiện ở Mỹ dạng thị trường này còn bị giới hạn rất nhiều về mặt pháp luật vì nó mang hình thức đánh bạc qua mạng, vì thế đã có một bài viết trên tạp chí Science, được rất nhiều nhà kinh tế có tên tuổi ký tên, đề xuất mở cửa dạng thị trường tiên đoán.

Tôi nhắc đến thị trường này vì hôm nay có xem lại tỷ lệ tiên đoán giải Nobel trên ipredict.co.nz, và một lần nữa lại thấy tổng xác suất của các sự kiện (dựa trên giá các hợp đồng) lớn hơn 100% (tôi đã từng thấy điều này nhiều lần trên intrade.com). Hiện tượng này dẫn đến khả năng kiếm tiền chắc ăn (arbitrage): nếu tôi bán cùng một lúc hợp đồng tiên đoán tất cả các khả năng, thì tôi sẽ chắc chắn kiếm được tiền (xác suất 100%) nhiều hơn số tiền tôi sẽ phải thanh toán. Lý do là vì lượng giao dịch của các hợp đồng không cao, nên giá của mỗi hợp đồng không phản ánh chính xác xác suất được cả thị trường tiên đoán, mà chỉ là xác suất của những người tham gia thị trường đó thôi. Thêm vào đó, những người tham gia vào một thị trường nhỏ thường có xu hướng tâm lý phóng đại xác suất một sự kiện lên (như lý thuyết Prospect của Kahneman và Tversky). Tổng hợp lại, tổng xác suất của các sự kiện có thể xảy ra sẽ lớn hơn 100%. Và cũng chẳng ai buồn kiếm tiền dựa vào sự chênh lệch này (arbitrage), vì thị trường quá mỏng và không kiếm được mấy.

Có thể hiện tượng này cũng giải thích bằng mô hình tài chính kiểu CAPM, nhưng tôi nghĩ là sẽ dẫn đến các tham số bất hợp lý, vì giá trị của các giao dịch ở đây quá nhỏ đối với mức sống bình thường

Monday, October 4, 2010

Nobel Kinh tế học 2010

Năm nay tôi không chú ý lắm đến giải Nobel kinh tế, nếu như không có một lời mời viết bài bình luận về giải. Tôi bắt đầu tìm hiểu những dự đoán về giải, và phát hiện ra là advisor của mình, Alberto Alesina, cũng nằm trong số ít người được Thomson Reuters dự đoán cho giải Nobel kinh tế năm nay. Những người còn lại là Kyotaki, Moore và Kevin Murphy. Thú thực là tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu một trong những người này được nhận giải năm nay. Họ đều có những công trình đặt nền tảng cho nhiều lĩnh vực trong kinh tế học, nhưng có thể nói những công trình này còn "quá sớm" để có thể trao giải. Công trình của Alesina về mô hình các yếu tố kinh tế chính trị trong kinh tế vĩ mô bắt đầu từ nửa sau những năm 1980. Mô hình Kyotaki-Moore thì mới được hơn 10 năm, còn các công trình của Kevin Murphy (đối với Murphy thì phải nói đến tổng thể các công trình) cũng thuộc vào thời kỳ nửa sau thập kỷ 1980 trở đi. Vì vậy khả năng được giải trong ngành Kinh tế rất ít. Thomson Reuters vẫn hay đưa ra những dự đoán Nobel Kinh tế mà không hề quan tâm đến vấn đề này (ví dụ năm trước có dự đoán Ernst Fehr chẳng hạn).

Quay lại dự đoán năm nay, tôi nghĩ là không có gì khác nhiều so với năm trước. Có khác chăng là năm nay sẽ loại bỏ những người hoạt động trong lĩnh vực được trao giải năm trước, chẳng hạn như bộ ba Sanford Grossman - Oliver Hart - John Moore (cùng là John Moore mà Thomson Reuters dự đoán, nhưng cho một công trình khác hẳn). Những tên tuổi vẫn đáng để mắt tới là Barro, Fama & French, Hansen & Sargent, Thaler, nhất là người đã lớn tuổi thì có Peter Diamond, Auerbach, Feldstein, Dixit.

Để đến thứ hai tới xem kết quả ra sao.

Update: Hôm nay xem qua trên mạng thấy nhiều người đề xuất trao giải cho Granovetter cho cống hiến về economic sociology, theo xu hướng của Ostrom năm ngoái. Cũng sẽ là một giải thưởng thú vị, và chắc sẽ tăng interest về nghiên cứu về social network, một chuyên ngành của tôi. Nhưng mọi người cũng nghĩ năm ngoái mới cho một "outsider" như Ostrom thì lại phải đợi thêm lâu lâu nữa. Trước Ostrom có Kahneman cũng là outsider, mặc dù nghiên cứu của Kahneman thì đã được biết rộng rãi trong giới behavioral economists.

Update: Một ý khác mới nghĩ đến hôm nay: trước giờ có 2 phân ngành hay được giải, là econometrics và finance, vì hai ngành này thuộc dạng "technical" (finance ở đây là market finance). Hai ngành này cũng chưa được them giải nào suốt mấy năm nay rồi, nên có thể giải thưởng lại quay lại. Nếu quả có vậy, econometrics thì có thể đề cử Chris Sims, Hansen và Sargent (Sargent thì không hẳn là econometrician), còn finance thì tôi không rõ lắm, ngoài Fama - French (mà nhiều người nói là sẽ không đươc giải sau vụ financial crisis). Về corporate finance, behavioral finance thì có thể nhắc đến Jensen hay Thaler, nhưng nghĩ lại thì khả năng cũng thấp.

Update: Hôm nay blog của Mankiw có chỉ đến tỷ lệ đặt cược giải Nobel kinh tế trên ipredict.co.nz. Theo đó, Thaler và Shiller dẫn đầu (nhưng Shiller cũng còn trẻ quá), rồi đến Hart (cùng lĩnh vực với Williamson năm ngoái), Tirole (hơi trẻ), Weitzman và Nordhaus (về kinh tế môi trường, cũng khó biết được), vv. Trong list này có tên của Tullock, Peltzman và Posner, tôi hơi ngạc nhiên. Tullock rất xứng đáng, và trước đây đáng ra Tullock nên được giải cùng Buchanan (đã nhận giải từ thập kỷ 1980), nhưng có thể hồi đó ông còn quá trẻ. Nếu giải được trao cho lĩnh vực Luật và Kinh tế (Law and Economics), thì ngoài Posner còn có Shivell cũng có ảnh hưởng rất lớn. Cũng có thể lắm.

Thursday, September 2, 2010

Time Inconsistency

Bài này đã viết trên blog cũ (nay là Blog Duy Lý Nhân), nhưng tôi chép lại ở đây vì nội dung có phần phù hợp hơn. Bài này được viết trước khi Oliver Williamson được giải Nobel thì phải.


Bài gốc: Time Inconsistency


Vấn đề thiếu nhất quán theo thời gian (time inconsistency) là một yếu tố rất quan trọng trong kinh tế học hiện đại; tôi cũng biết từ trước, song đến hôm nay đột nhiên hiểu ra nó còn quan trọng hơn cả tầm quan trọng lúc trước mình vẫn nghĩ.

Nói chung chung, time inconsistency chỉ trường hợp một cá thể kinh tế phải đối diện với cùng một quyết định tại hai thời điểm khác nhau, mà quyết định tối ưu ở mỗi thời điểm một khác. Ví dụ, một sinh viên phải tính trước quyết định từ năm thứ nhất là đến năm thứ hai sẽ làm gì, sau đó đến năm thứ hai thì thực sự thi hành. Vấn đề nảy sinh nếu sinh viên này từ đầu nghĩ rằng nên học nhiều vào năm thứ hai, còn năm thứ nhất chơi thỏa thích đã; song đến năm thứ hai, thì thực sự sinh viên này lại muốn chơi tiếp. Vì không có cách nào tự ràng buộc vào việc học năm thứ hai (thiếu commitment device), nên cuối cùng sinh viên này chơi hết luôn 2 năm, không học hành gì nữa. (Vô tình ví dụ này lại giống hệt thời học đại học của tôi :D.)

Ví dụ thì tương đối đặc biệt, còn về ý chung, có thể hiểu time inconsistency là sự thiếu hụt một phương tiện thỏa thuận và bảo đảm hợp đồng. Trong ví dụ này, đó là "hợp đồng" giữa sinh viên này năm thứ nhất, và sinh viên này năm thứ hai: dĩ nhiên hai người này không thỏa thuận được với nhau. Cũng có một số cách tạo nên phương tiện bảo đảm hợp đồng, ví dụ như tự đăng ký vào các lớp học không bỏ được, kể với bạn bè rằng sẽ học thực sự vào năm thứ hai, vân vân, song không phương tiện nào hoàn hảo, và lúc nào cũng có cách tháo gỡ cả.

Nôm na về time inconsistency là như thế. Bây giờ nói đến ảnh hưởng trên lý thuyết kinh tế của khái niệm này. Khung cơ bản của kinh tế hiện đại là kinh tế tân cổ điển trong đó tất cả các thị trường đều hoạt động tốt, và quan trọng là mọi giao dịch đều được bảo đảm sẽ thực hiện (tức là mọi hợp đồng đều được thực thi) - gốc lý thuyết bắt nguồn từ hệ thống cân bằng tổng thể (từ những người "marginalists" đến Arrow-Debreu, mở rộng thêm tiền tệ, tài chính, vv., cộng với định lý quan trọng về externalities của Coase). Một khi nền tảng giả thiết này không được thỏa mãn, thì kết quả cuối cùng sẽ không còn tối ưu cho tất cả mọi cá thể nữa, và thường liên quan đến một vấn đề kinh tế thú vị.

Đây là những vấn đề thú vị tôi nhận ra có liên hệ mật thiết với khái niệm time inconsistency. Đầu tiên là sự "khám phá" ra khái niệm này, nhờ đó Kydland và Prescott đã được giải Nobel (thực ra 2 ông còn có công xây dựng mô hình Real Business Cycles nữa) - nguồn gốc thực sự có lẽ từ Keynes, nếu không phải là trước nữa. Sát với khái niệm này trong kinh tế vĩ mô là nghiên cứu của Barro-Gordon về reputation của central banker, cũng là một "Nobel claim" của Robert Barro (cùng với nghiên cứu về Ricardian equivalence). Sau đấy là lý thuyết hợp đồng, với vấn đề hold-up của Oliver Williamson, sau đến lý thuyết property rights của Sanford Grossman, Oliver Hart và John Moore: trong các lý thuyết này, time inconsistency nảy sinh trong quan hệ hợp đồng giữa 2 bên, và cũng không có khả năng đảm bảo hợp đồng ở tòa án (Maskin-Tirole phản đối việc này). Đây cũng là các lý thuyết có "Nobel claim". Tiếp nữa là lý thuyết về intellectual property rights, trong đó việc đảm bảo một thứ quyền nhân tạo như IPR chính là một commitment device để tạo động cơ cho khám phá công nghệ. Lý thuyết này (David Levine có phản đối IPR tương đối hay) dẫn đến lý thuyết tăng trưởng nội sinh thế hệ 2 (Aghion-Howitt), trong đó chính sách nhà nước có tác dụng thúc đẩy nghiên cứu, nhờ làm commitment device cho việc tận dụng thành quả nghiên cứu cho nhà phát minh, nhờ đó tạo ra tăng trưởng nội sinh. Tiếp theo phải nói đến lý thuyết thuế (public finance) giải thích về thuế lên capital chứ không phải labor, cơ bản cũng tạo ra commitment device. Tiếp nữa là lý thuyết về procrastination trong behavioral economics, như là hyperbolic discounting của David Laibson (time inconsistency của cùng 1 cá nhân ở nhiều thời điểm khác nhau, như là ví dụ tôi viết ở trên). Gần đây, đặc biệt có lý thuyết về kinh tế chính trị của Acemoglu-Robinson trong đó một nền độc tài luôn gặp time inconsistency khi muốn đảm bảo không bóc lột dân chúng, và tạo ra commitment device chính nhờ vào việc chuyển đổi thành dân chủ. Gần nhất, lý thuyết quyền sở hữu của Grossman-Hart-Moore mang vào thương mại quốc tế để giải thích quyết định outsource hay FDI (Antras).

Phù, đến hôm nay tôi mới thấy ảnh hưởng rộng lớn của một khái niệm đơn giản như thế. Có lẽ tại vì ngày trước không chịu học hành tử tế.

Bài này chủ yếu là để ghi nhớ ý tưởng, các bạn không quan tâm đến ngành kinh tế chắc là không để ý làm gì.

Bổ sung về Time Inconsistency

Dưới đây tôi sẽ bổ sung dần dần thêm về những bài nghiên cứu có đề cập đến hiện tượng này. Gần đây có bài của Emmanuel Farhi và Ivan Werning chỉ ra ích lợi của tax on capital trên phương diện nó là commitment device để tránh time inconsistency của policy makers.

Monday, October 12, 2009

Nobel Kinh tế học 2009 - Kết quả

Cuối cùng, giải thưởng năm nay được trao cho hai người. Cái tên thứ nhất được nhắc đến cuối cùng (last, but not least) trong bài trước, Oliver Williamson; cái tên thứ hai tôi hầu như chưa nghe đến bao giờ, Elinor Ostrom. Có lẽ phải tốn nhiều thời gian đọc để biết Ostrom viết về gì. Chắc tôi sẽ bắt đầu bằng bài báo trên Journal of Economic Perspectives của bà, vì đấy là bài duy nhất của bà trên một tạp chí kinh tế danh tiếng (tạp chí này không đăng nghiên cứu sáng tạo mới về kinh tế, mà đăng các bài tổng hợp mang tính trao đổi giữa kinh tế học với thế giới phi kinh viện, hoặc với các ngành khác).

Trên blog của các nhà kinh tế, nhiều người thừa nhận không biết gì về Ostrom (Krugman, Levitt), ngoài ra ít có bình luận về Ostrom. Có Al Roth đồng tình với quyết định trao giải cho Ostrom, vì ông cũng biết ít nhiều về nghiên cứu của bà.

Đối với tôi, sự ngạc nhiên không phải đến từ một phụ nữ hay một nhà chính trị học (political scientist), mà từ một nhà nghiên cứu thực nghiệm với phương pháp tương đối diễn giải, phi toán học. Ở một chừng mực nào đó, Ostrom cũng làm thí nghiệm, giống như Kahneman. Tuy vậy, có lẽ thí nghiệm của Ostrom không để nhằm vào khuôn khổ lý thuyết kinh tế học như Kahneman. Cũng đáng chú ý là ngay Williamson cũng sử dụng phần nhiều phương pháp luận phi toán học.

Đợt này có lẽ mọi sự chú ý sẽ dành cho Ostrom, nhờ vào yếu tố ngạc nhiên. Williamson thì không cần phải nhắc đến nhiều, vì vai trò của ông đã quá rõ, và có nhiều người trông đợi vào việc ông được trao giải. Cũng chú ý rằng Sanford Grossman, Oliver Hart & John Moore chưa hết hy vọng sau khi Williamson được giải: về mặt lý thuyết, có những điểm khác biệt rõ rệt giữa Williamson & mô hình GHM. Tất nhiên, GHM nếu được cũng sẽ phải đợi tương đối lâu.

Monday, October 5, 2009

Nobel Kinh tế học 2009

Vì tính thời sự và độ stress hơn mức cần thiết, blog này bắt đầu bằng một bài không ra đâu vào đâu, trước khi có một lời giải thích hợp lễ. Bài này viết tạm ra để đặt viên gạch dự đoán giải Nobel kinh tế học năm 2009, đặng nếu có vô tình đoán trúng thì người viết có thể nghiễm nhiên tự nhận là có tầm nhìn xuyên thấu.

Website của Thomson Reuters dự đoán thiên về behavioral economics, environmental economics, hay là macroeconomics. Tôi nghĩ cả 3 hướng đều không chính xác. Như thường lệ, dự đoán của tôi vẫn đặt nặng vào những ứng cử viên trước giờ đều ngấp nghé, trừ bớt đi những chuyên ngành mới đây đã được trao giải.

Vì năm ngoái Krugman được giải, nên năm nay đành gạt những tên như Bhagwati, Dixit, Helpman ra khỏi danh sách (cho dù Dixit hay Helpman có thể được giải về political economy - biết đâu đấy?)

Chuyên ngành có nhiều khả năng hơn cả có lẽ là finance, mà ứng cử viên có thể là một bộ đôi khó hợp, Fama và Thaler. Fama (có thể thêm French) cho efficient market hypothesis (CAPM, vv.), Thaler cho behavioral finance.

Trong macro, Barro vẫn ngồi đợi từ lâu. Thêm nữa trong macro có lẽ là Paul Romer, Sargent, Hansen (econometrics nữa), hay là Hall. Thomson Reuters đề xuất Taylor, Gali, Gertler, tôi nghĩ đều ít khả năng.

Nhắc đến econometrics (ngành lúc nào cũng có nhiều khả năng được giải), có thể là Hansen, Sims, Hausman hay Chamberlain.

Có ít khả năng environmental econ được giải, nhưng nếu được thì chắc sẽ như Thomson Reuters dự đoán, là Nordhaus và Weitzman.

Về những ngành khác, development có thể trông chờ vào Deaton, public finance có thể là Auerbach, Diamond hay Feldstein, labor có thể là Murphy hay Katz, micro theory là Kreps, Milgrom, S. Grossman, Hart và Moore, empirical IO là Pakes, Judd (computational). Ngoài ra luôn phải kể Jean Tirole và Oliver Williamson nữa.