Showing posts with label institution. Show all posts
Showing posts with label institution. Show all posts

Thursday, June 7, 2012

Blog tập hợp data về kinh tế phát triển - kinh tế chính trị

Masayuki Kudamatsu, phó giáo sư (Assistant Professor) ở Học viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc tế (IIES), Đại học Stockholm, thành lập và cập nhật một blog về các cơ sở dữ liệu được dùng trong nghiên cứu kinh tế phát triển. Blog link ở đây: http://devecondata.blogspot.sg/
Địa chỉ website cá nhân của Kudamatsu ở đây: http://people.su.se/~mkuda/HOME.html. IIES là một trong những trường kinh tế hàng đầu ở châu Âu (có lẽ chỉ sau LSE và U Pompeu Fabra), nhất là về kinh tế chính trị.

Kudamatsu có một bài nghiên cứu làm cùng với thầy giáo cũ ở LSE là Tim Besley rất thú vị, tên là "Làm cho nền chuyên chế chạy được" (Making Autocracy Work), đã đăng trong cuốn sách "Thể chế và kết quả kinh tế" (Institutions and Economic Performance) do Elhanan Helpman biên tập. Link đến bài này có thể tìm trên google scholar, ví dụ như link từ STICERD: http://sticerd.lse.ac.uk/dps/de/dedps48.pdf. Bài tóm tắt mang tính phổ thông trên VoxEU ở đây: http://www.voxeu.org/index.php?q=node/356.

Bài này đặt tên để nhắc lại cuốn sách nổi tiếng "Làm cho nền dân chủ chạy được" (Making Democracy Work) của Robert Putnam. Besley và Kudamatsu phát triển theo quan điểm là trong những nền chuyên chế (tức là phi dân chủ) cũng có những lực lượng giám sát, cân bằng, gây sức ép với chính quyền hiện hành để đưa ra chính sách kinh tế hợp lý. Có điều, vì cơ chế khác nhiều với môi trường dân chủ, thường là không có sự ổn định giữa chính sách hay hay dở, nên kết quả là các thể chế chuyên chế có thể thành công, song cũng có thể gặp vô vàn thất bại. Đây là một quan điểm khá thú vị, và bổ sung thêm cho hai quan điểm chính về các nước chuyên chế trong khoa học kinh tế chính trị. Hai quan điểm chính này thuộc về Acemoglu và Robinson ("Những nguồn gốc kinh tế của nền dân chủ và nền độc tài" - Economic Origins of Dictatorship and Democracy), và Bueno de Mesquita và đồng tác giả ("Logic của sự sống còn trong chính trị" - Logic of Political Survival). Sự khác biệt chủ yếu nằm ở cách hiểu những lực lượng giám sát và cân bằng (checks and balances) trong môi trường chuyên chế/độc tài. Acemoglu và Robinson chú trọng vào mối đe doạ cách mạng đến từ dân chúng, Bueno de Mesquita và đồng tác giả chú trọng vào vai trò của nhóm người có thực quyền lựa chọn ra lãnh đạo (họ đưa ra từ "selectorate", xuất phát từ select và electorate), còn Besley và Kudamatsu quan tâm đến hiện tượng nhà lãnh đạo bị thay thế nếu như không có khả năng đưa ra chính sách đúng đắn.

Tuesday, June 5, 2012

Sự biệt lập của trung tâm chính trị và mức độ tham nhũng trong các bang ở Mỹ

Tôi đã nhắc qua về bài này trên blog Duy Lý Nhân, nhưng nghĩ lại thấy để bên blog này hợp lý hơn. Đây là một nghiên cứu mới của tôi về sự biệt lập của trung tâm chính trị và mức độ tham nhũng ở Mỹ mới được trích dẫn trên một số blog, báo LA Times và NPR:
Bài nghiên cứu gốc có tựa đề "Thủ phủ bị cô lập, mức độ chịu trách nhiệm của chính quyền, và tham nhũng: Bằng chứng từ các bang của Mỹ" có thể xem ở đây: http://www.mysmu.edu/faculty/quocanhdo/default_files/Papers/CorruptionStates%20%28May12%29_merged.pdf. (Tôi tạm dịch chữ "accountability" là "mức độ chịu trách nhiệm của chính quyền, nhờ mọi người tìm cách khác tốt hơn.)


Bài nghiên cứu này xuất phát từ chương trình nghiên cứu của tôi và anh Filipe R. Campante (bạn học cũ, hiện là Assistant Professor ở Harvard Kennedy School) về vai trò của sự tập trung dân chúng ở các trung tâm chính trị. Mạch suy luận điển hình trong chương trình nghiên cứu này là nếu dân chúng sống tập trung hơn xung quanh các trung tâm chính trị, thì dân chúng có ảnh hưởng hơn, có tiếng nói hơn đối với chất lượng chính sách và cuộc sống chính trị. Tuy vậy, tuỳ theo môi trường thể chế, sự ảnh hưởng này có cách thể hiện rất khác nhau. Trong câu chuyện ở Mỹ trong bài nghiên cứu này, thì kênh dẫn chính của ảnh hưởng của dân chúng là các phương tiện báo chí. Ở các bang có dân cư sinh sống gần với thủ phủ hơn, báo chí sẽ tích cực đưa tin về chính trị ở mức bang hơn, và vì thế chính quyền bang chịu sức ép và phải có trách nhiệm hoạt động trong sạch và tốt hơn. Một yếu tố khác là nhờ báo chí đưa tin nhiều hơn, cư dân sống gần với thủ phủ của bang cũng có xu hướng đi bầu cử ở mức bang nhiều hơn (trong khi điều này không ảnh hưởng đến việc đi bầu cử mức liên bang, như là bầu cử tổng thống.) Việc cư dân sống gần thủ phủ hơn cũng làm cho chính quyền bang lo chi tiêu cho chính sách công nhiều hơn, và hạn chế việc các nhóm lợi ích bơm tiền vào hoạt động chính trị. Cụ thể chi tiết có thể xem trong bài viết.

Chương trình nghiên cứu của chúng tôi bắt đầu từ khoảng năm 2004, khi chúng tôi vẫn còn chung nhau một căn hộ ở Cambridge. Chương trình này cũng đã sinh ra một vài nghiên cứu, nhưng có lẽ bài viết về các bang ở Mỹ sẽ được giới khoa học kinh tế chú ý nhất.

Update: - Thực ra tôi đã nhắc đến một nghiên cứu khác trong chương trình nghiên cứu này, link ở đây: http://ytuongkinhtehoc.blogspot.sg/2010/09/nghien-cuu-cua-toi.html.
- Blog Marginal Revolution lại nhắc đến 2 bài nghiên cứu này ở đây: http://marginalrevolution.com/marginalrevolution/2012/08/are-isolated-capital-cities-worse.html.

Wednesday, October 20, 2010

Tăng trưởng và thay đổi chính trị

Bài này mới đăng trên American Economic Journal: Macroeconomics, một trong bốn tờ bào "chuyên đề" mới mở từ American Economic Review: Do Output Contractions Trigger Democratic Change? Câu hỏi của bài, như trong tên bài, là liệu khó khăn về kinh tế có dẫn đến chuyển đổi thể chế dân chủ trong ngắn hạn không. Bài sử dụng phương pháp dynamic panel và dùng instrumental variables (IV) để định dạng (identify) ảnh hưởng của tăng trưởng lên thay đổi thể chế, chứ không phải chiều ngược lại, hay có một yếu tố ẩn (omitted variable) ảnh hưởng đến cả hai. IV ở đây là những shock về khí hậu (lượng mưa, nhiệt độ) và giá nguyên vật liệu. Sau đây là tóm tắt cụ thể. Như thường lệ, các bạn có thể tìm qua google scholar nếu không truy cập tực tiếp được.
Does faster economic growth increase pressure for democratic change, or reduce it? Using data for 154 countries for the period 1963–2007, we examine the short-run relationship between economic growth and moves toward and away from greater democracy. To address the potential endogeneity of economic growth, we use variation in precipitation, temperatures, and commodity prices as instruments for a country’s rate of economic growth. Our results indicate that more rapid economic growth reduces the short-run likelihood of institutional change toward democracy. Output contractions due to adverse weather shocks appear to have a particularly important impact on the timing of democratic change.
Kết quả này có thể không làm nhiều người ngạc nhiên, nhưng nó đóng góp vào cuộc thảo luận về liên hệ giữa phát triển và thay đổi thể chế. Trong tranh luận về vấn đề này, câu hỏi chủ yếu là cần có thay đổi thể chế trước, hay cần có phát triển trước, trong đó phát triển ở đây được hiểu theo nhiều phương diện, từ tăng trưởng cho đến giáo dục. Kết quả của bài này ủng hộ luận điểm cần có thay đổi thể chế trước, vì tăng trưởng thậm chí giảm khả năng thay đổi thể chế trong ngắn hạn.

Sunday, October 10, 2010

Nguồn gốc thể chế và ảnh hưởng lâu dài

Nghiên cứu về tầm quan trọng của các thể chế kinh tế, xã hội, chính trị là một nhánh chính yếu của kinh tế học, nhất là từ phong trào "kinh tế thể chế mới" bắt nguồn cách đây hơn 20 năm. Một trong những kết quả thường được đảo đi đảo lại là nguồn gốc của thể chế có ảnh hưởng lâu dài đến phát triển kinh tế. Ví dụ thứ nhất là những nghiên cứu về ảnh hưởng của nguồn gốc thực dân lên hệ thống luật pháp và thể chế (Laporta, Lopez-de-Silanes, Shleifer, Vishny), mà chủ yếu là so sánh giữa hệ thống civil law (gốc Pháp) và hệ thống common law(gốc Anh), theo đó các nước có nguồn gốc common law thường có kết quả phát triển kinh tế tốt hơn. Ví dụ thứ hai là tập hợp nghiên cứu về thể chế thực dân mang tính bóc lột hay xây dựng (Acemoglu, Robinson), theo đó không phân biệt nguồn gốc luật pháp, ở những nơi khó định cư thì thực dân phương Tây áp đặt thể chế bọc lột, từ đó ảnh hưởng lâu dài đến thể chế sau này (kể cả sau khi các nước thuộc địa giành độc lập), rồi ảnh hưởng đến phát triển kinh tế.

Khó khăn điển hình của tất cả những nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này là việc không thể định dạng (identify) chính xác được đâu là tác động của thể chế, đâu là tác động của các yếu tố khác, bao gồm rất nhiều đặc điểm riêng về văn hoá, địa lý, lịch sử, nhân chủng của mỗi quốc gia. Ngay cả nghiên cứu của Acemoglu, Johnson và Robinson sử dụng tỷ lệ tử vong của người định cư phương Tây cũng có những thiếu sót khó tránh khỏi.

Để giải quyết vấn đề định dạng (identification), phương hướng đi sâu là tìm những thí nghiệm tự nhiên, trong đó các nước/lãnh thổ vì một lý do ngẫu nhiên nào đó bị chiếm đóng và được du nhập thể chế kiểu Anh, thay vì kiểu Pháp (hơn nữa, lý do này không ảnh hưởng đến các yếu tố khác). Rất khó tìm được những thí nghiệm tự nhiên như vậy. Ví dụ có nghiên cứu của Acemoglu, Cantoni, Johnson, Robinson dựa vào sự chiếm đóng của quân đội Napoléon ở các bang của Đức để tìm hiểu ảnh hưởng của sự giải phóng về thể chế (kết quả là tác động tốt của thể chế Napoléonean) (bài này cũng đã được diễn giải trên voxeu).

Việc tìm được một thí nghiệm tự nhiên tốt về vấn đề nguồn gốc thể chế sẽ dẫn đến những kết quả mạnh và có ảnh hưởng lớn trong kinh tế thể chế. Đây cũng là một câu hỏi mà tôi vẫn thường nghĩ. Hiện giờ, tôi có những ý tưởng rất sơ khai như sau:
  1. Có thể tìm hiểu những nhượng địa ở Thượng Hải: nhà Thanh phải ký nhiều hiệp ước nhượng đất cho các cường quốc phương Tây, đặc biệt ở Thượng Hải. Có thể những nhượng địa này chịu ảnh hưởng lâu dài của các thể chế khác nhau. Tuy vậy, tôi cảm giác rằng hướng này không đi đến đâu, vì nước Trung Quốc của Mao Trạch Đông đã nhổ tận gốc những mầm mống thể chế trước đó. May ra nếu tìm được dữ liệu chi tiết của các nhượng địa này vào thời 1950-1955 thì còn có thể thấy tác động; tuy nhiên điều này không khả thi.
  2. Có thể tìm hiểu sự di cư của người Hoa đến các nước Đông Nam Á. Địa điểm di cư về cơ bản không ngẫu nhiên; tuy vậy dường như người Hoa di cư đến những địa điểm đã có sẵn người Hoa, và điều này có thể lùi lại nhiều thế kỷ đến thời kỳ Trịnh Hoà đi thám hiểm Đông Nam Á (có thể giả sử rằng địa điểm dừng chân khá ngẫu nhiên). Để chính xác hơn, có thể hạn chế vào một quốc gia, chẳng hạn như Malaysia. Nghiên cứu này có thể cũng thú vị, nếu như có đủ dữ liệu để làm. Câu hỏi ở đây không hẳn là về thể chế chính trị và kinh tế của phương Tây, mà là về thể chế xã hội và kinh tế của một bộ phận quan trọng người nhập cư có nguồn gốc khác hẳn với người bản địa.
Tôi cảm giác là ở Việt Nam, ngay giữa các huyện, xã cũng có chênh lệch rất nhiều về thể chế xã hội, vốn dĩ xuất phát từ lịch sử của tính độc lập tương đối trong văn hoá xóm làng. Ví dụ, có những làng xã có gốc ngành nghề từ lâu, kể cả nghề ăn mày, và những làng xã này rất khác những làng xã làm nghề nông thuần tuý. Tuy vậy, khó xác định được một nguồn gốc ngẫu nhiên của những làng xã này. Nếu tìm được một nhân tố ngẫu nhiên ảnh hưởng đến nguồn gốc của làng xã, thì sẽ có nghiên cứu rất thú vị về sự chuyển biến của làng xã trong thời kỳ Đổi Mới. Câu hỏi ở đây là liệu những làng xã có văn hoá công nghiệp hay văn hoá kinh doanh có thích nghi, biến chuyển và phát triển khác với các làng xã có văn hoá nông nghiệp hay không. Đây là một câu hỏi đáng nghĩ.